CHI TIẾT THÔNG TIN

Hoạt động của bão, áp thấp nhiệt đới năm 2018 (25-06-2019)

HOT ĐNG CA BÃO, ÁP THP NHIT ĐI NĂM 2018

Năm 2018 là năm có số lượng bão hoạt động trên khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương (TBTBD) nhiều hơn so với số liệu TBNN và nhiều hơn 02 cơn so với năm 2017. Trong khi đó trên khu vực Biển Đông, hoạt động của bão và ATNĐ cũng được ghi nhận nhiều hơn so với TBNN. Trong năm đã có 09 cơn bão, 05 ATNĐ hoạt động trên Biển Đông và ảnh hưởng đến đất liền Việt Nam. Số lượng bão là ít hơn so với TBNN và số lượng ATNĐ lại nhiều hơn TBNN. Trong số 09 cơn bão hoạt động trên Biển Đông có 03 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền nước ta và trong số 05 ATNĐ thì không có ATNĐ nào ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta.

1. Đc điểm hoạt đng ca bão, áp thp nhiệt đới trên khu vực Tây Bc Thái Bình Dương

Năm 2018 trên khu vực TBTBD có 29 cơn bão và 05 ATNĐ hoạt động. Phân bố của bão và ATNĐ theo các tháng được trình bày trên Bảng 1.

Bng 1. Bão và ATNĐ hoạt đng trên khu vực TBTBD trong năm 2018

 

Tháng

 

1

 

2

 

3

 

4 - 5

 

6

 

7

 

8

 

9

 

10

 

11

 

12

 

Tổng

ATNĐ

 

 

 

 

 

1

 

3

 

 

 

 

 

1

 

5

Bão, bão mnh

(cấp 8 - 11)

 

1

 

1

 

 

 

2

 

3

 

5

 

1

 

 

2

 

 

15

Bão rt mnh

(cấp 12 - 15)

 

 

 

1

 

 

2

 

1

 

3

 

 

 

1

 

 

8

Siêu bão

( cấp 16)

 

 

 

 

 

 

1

 

1

 

3

 

1

 

 

 

6

 

Tổng số

 

1

 

1

 

1

 

 

5

 

8

 

9

 

4

 

1

 

3

 

1

 

34

Bão, ATNĐ hoạt động trên khu vực TBTBD trong năm 2018 bắt đầu vào sáng 03/01 với với sự xuất hiện của một bão, có tên quốc tế là Bolaven, trên vùng biển phía Đông quần đảo Trường Sa và suy yếu thành một vùng áp thấp vào sáng 04/01 trên vùng biển ngoài khơi tỉnh Khánh Hòa. Kết thúc là một ATNĐ, hình thành trên vùng biển phía Đông, miền Nam Philippin vào tối 27/12, suy yếu thành một vùng áp thấp trên vùng biển Xu Lu (Philippin) vào sang 30/12. Như vậy có thể nói hoạt động của bão, ATNĐ trong năm 2018 trên khu vực biển TBTBD là xuất hiện sớm và kết thúc muộn.

Trong năm, ngoại trừ các tháng 4 và 5 không có bất kỳ cơn bão, ATNĐ nào hoạt động thì trong các tháng còn lại trong năm, tháng nào cũng xuất hiện bão, ATNĐ hoạt động. Số lượng các cơn bão, ATNĐ hoạt động tăng dần và đạt cực đại vào tháng 8 (có 09 cơn bão hoạt động trong tháng này), sau đó giảm dần về cuối năm. Số lượng các cơn bão hoạt động trên khu vực TBTBD nhiều hơn số liệu TBNN là 01 cơn.

Khác với hoạt động của bão trong năm 2017, số lượng các cơn bão, ATNĐ hoạt động trong năm 2018 là nhiều hơn so với số liệu TBNN, trong đó số lượng các cơn bão rất mạnh (cường độ ≥ cấp 12) cũng nhiều hơn so với số liệu TBNN. Trong tổng số 29 cơn bão hoạt động trên khu vực TBTBD trong năm 2018 có 14 cơn bão có cường độ rất mạnh, chiếm tỉ lệkhoảng 48% trong tổng số các con bão hoạt động trên khu vực này. Số lượng các cơn bão rất mạnh này là tương đương so với năm 2016 (14 cơn). Một điểm chung rất dễ nhận thấy là số lượng các siêu bão trên khu vực TBTBD trong năm 2018 là nhiều hơn hẳn so với năm 2017. Trong tổng số 14 cơn bão rất mạnh có đến 06 siêu bão, chiếm tỉ lệ khoảng 43% trong tổng số các cơn bão có cường độ rất mạnh hoạt động trên khu vực TBTBD. Một điểm cần nhấn mạnh nữa là trong tháng 9 có 04 cơn bão hoạt động thì 03 cơn trong số đó là các siêu bão. Siêu bão có cường độ mạnh nhất trong năm 2018 hoạt động trên vùng biển TBTBD là siêu bão có tên quốc tế là Yutu, có cường độ cuối cấp 17 (220km/h), giật trên cấp 17.

Tương tự như năm 2017, thời gian hoạt động, tồn tại của các cơn bão trong năm 2018 khi di chuyển trên biển và trên đất liền là không dài, phổ biến khoảng 3 - 4 ngày (có 07 cơn, chiếm tỉ lệ24%). Trong khi đó thời gian hoạt động của các siêu bão lại tương đối dài và dao động trong khoảng 8 - 10 ngày, riêng siêu bão Yutu tồn tại 12 ngày và là cơn bão hoạt động lâu nhất trong năm 2018. Một số đặc trưng về hoạt động của bão và ATNĐ trong năm 2018 được trình bày trong Bảng 2.


Bng 2. Bão và áp thp nhit đới hoạt động Tây Bắc Thái Bình Dương và Biển Đông năm 2018

 

TT

Tháng

Loại

Tên bão và ATNĐ

Cường độ

Thời gian tồn tại

Phạm vi hoạt động

Số hiệu QT

Tên QT

Số hiệu VN

Pmin (mb)

Vmax (kts)

Từ

Đến

Số ngày

Nơi phát sinh

Nơi kết thúc

1

1

TS

1801

BOLAVEN

Bão số 1

1002

35

01h/03/01

07h/04/01

1

09.8 - 117.4

12.1 - 110.0

2

2

TS

1802

SANBA

 

1002

35

07h/11/02

07h/14/02

3

06.8 - 137.1

09.0 - 120.5

3

3

TYP

1803

JELAWAT

 

935

95

07h/25/3

01h/02/4

8

06.0 - 142.2

20.4 - 147.7

4

6

TS

1804

EWINIAR

Bão số 2

996

40

01h/05/6

13h/08/6

3

16.5 - 110.8

23.1 - 112.4

5

6

TYP

1805

MALIKSI

 

970

65

13h/07/7

01h/12/6

5

16.2 - 128.4

36.0 - 148.0

6

6

TS

1806

GAEMI

ATNĐ

990

45

01h/15/6

07h/17/6

2

22.6 - 120.1

29.0 - 133.0

7

6

TD

 

ATND

ATNĐ

1000

30

13h/17/6

13h/18/6

1

20.0 - 113.8

24,0 - 117.5

8

6

TYP

1807

PRAPIROON

 

960

65

01h/29/6

13h/04/7

5

19.9 - 130.8

40.0 - 134.0

9

7

STY

1808

MARIA

 

915

105

13h/04/7

01h/12/7

8

11.8 - 146.3

27.6 - 115.2

10

7

TD

 

ATND

ATNĐ

1000

25

01h/16/7

13h/17/7

1

19.2 - 107.3

18.0 - 106.4

11

7

TS

1809

SON-TINH

Bão số 3

990

45

01h/17/7

07h/19/7

2

19.0 - 120.6

19.1 - 104.6

12

7

STS

1810

AMPIL

 

985

50

13h/18/7

01h/23/7

5

18.8 - 129.2

38.0 - 117.0

13

7

TD

 

ATND

ATNĐ

1000

30

13h/20/7

13h/23/7

3

18.8 - 116.0

26.6 - 123.3

14

7

TD

 

ATND

ATNĐ

998

30

13h/21/7

13h/24/7

3

20.5 - 105.7

22.5 - 109.3

15

7

STS

1811

WUKONG

 

990

50

13h/23/7

01h/27/7

4

26.2 - 159.2

43.0 - 152.0

16

7

TYP

1812

JONGDARI

 

965

75

19h/24/7

19h/03/8

10

19.7 - 137.2

32.- - 120.3

17

8

TYP

1813

SHANSHAN

 

970

70

07h/03/8

13h/10/8

7

18.1 - 150.9

41.0 - 151.0

18

8

TS

1814

YAGI

 

990

40

07h/08/8

13h/13/8

5

19.1 - 132.4

31.9 - 117.7

19

8

STS

1815

LEEPI

 

994

50

19h/11/8

13h/15/8

4

20.6 - 143.5

35.0 - 129.0

20

8

STS

1816

BEBINCA

Bão số 4

985

50

01h/13/8

04h/17/8

4

20.6 - 112.5

19.6 - 105.9

21

8

TS

1817

HECTOR

 

998

40

01h/13/8

07h/15/8

2

25.8 - 179.3

29.0 - 171.0

22

8

TS

1818

RUMBIA

 

985

45

07h/15/8

07h/18/8

3

27.0- 127.3

32.5 -115.3

23

8

TYP

1819

SOULIK

 

950

85

01h/16/8

01h/25/8

8

14.0 - 143.7

41.0 - 134.0

24

8

TYP

1820

CIMARON

 

950

85

13h/19/8

13h/24/8

5

13.5 - 154.3

41.0 - 138.0

25

8

STY

1821

JEBI

 

915

105

01h/28/8

07h/05/9

8

14.6 - 157.9

47.0 - 139.0

26

9

STY

1822

MANGKHUT

Bão số 6

905

110

13h/07/9

13h/17/9

10

12.2 - 166.3

23.7 - 107.3

27

9

TS

1823

BARIJAT

Bão số 5

998

40

01h/11/9

13h/13/9

2

21.3 - 120.8

21.7 - 109.5

28

9

STY

1824

TRAMI

 

915

105

13h/21/9

07h/01/10

10

15.0 - 143.7

41.2 - 143.8

29

9

STY

1825

KONG-REY

 

915

105

07h/29/9

01h/07/10

9

12.4 - 144.5

41.0 - 137.0

30

10

STY

1826

YUTU

Bão số 7

905

115

19h/21/10

07h/02/11

12

08.5 - 158.1

20.8 - 116.6

31

11

TS

1827

TORAJI

Bão số 8

1004

35

13h/17/11

04h/18/11

1

10.2 - 111.7

10.9 - 110.3

32

11

TYP

1828

MAN-Yi

 

955

80

13h/20/11

07h/27/11

7

04.2 - 154.5

21.7 - 132.1

33

11

STS

1829

USAGI

Bão số 9

985

55

07h/22/11

13h/25/11

3

10.7 - 117.4

10.3 - 107.2

34

12

TD

 

ATND

 

1000

30

19h/27/12

07h/30/12

3

09.0 - 134.8

08.5 - 119.3

Ghi c: Các cơn bão và ATNĐ do Việt Nam (VN) phát tin lấy theo vị trí, đường đi ca VN.


2. Đc điểm hot đng của bão và áp thp nhiệt đi trên Biển Đông

Trong năm 2018, trên khu vực Biển Đông có 09 cơn bão và 05 ATNĐ hoạt động, số lượng này là ít hơn nhiều so với năm 2017 nhưng lại nhiều hơn so với số liệu TBNN. Trong số 09 cơn bão hoạt động trên Biển Đông có 03 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền nước ta đó là bão số 3 (Son-Tinh), bão số 4 (Bebinca) và bão số 9 (Usagi). Trong số 05 ATNĐ thì không có bất cứ ATNĐ nào ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền nước ta. Một điểm đặc biệt nữa trong năm 2018 của các cơn bão khi ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền nước ta là tất cả các cơn bão khi ảnh hưởng chỉ gây gió mạnh cấp 7, giật cấp 8 trên đất liền.

Ngược so với năm 2017, diễn biến của các cơn bão, ATNĐ khi ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta trong năm 2018, trước khi đổ bộ vào đất liền đều có diễn biến về cường độ không quá phức tạp, tuy nhiên diễn biến về hướng di chuyển trên biển và đổ bộ vào đất liền lại là rất phức tạp và không theo quy luật khí hậu. Bão số 4 (B binca), hình thành từ một ATNĐ trên vùng biển phía Bắc quần đảo Hoàng Sa, thắt nút một vòng trên vùng bờ biển phía Tây Nam tỉnh Quảng Đông trước khi mạnh lên thành bão và lại thắt nút vòng thứ 2 trước khi di chuyển theo hướng Tây Tây Nam, đổ bộ vào Thanh Hóa - Nghệ An và càng vào gần bờ cường độ bão càng suy yếu. ATNĐ hình thành vào những ngày cuối tháng 7, ngay trên vùng bờ biển Bắc Bộ (trên vùng bờ biển Thái Bình - Nam Định), di chuyển ngược ra phía Vịnh Bắc Bộ, sau đó đổi hướng đi qua phía Tây Bắc đảo Hải Nam và bán đảo Lôi Châu (Trung Quốc) trước khi suy yếu thành một vùng áp thấp ở phía Bắc bán đảo này là không tuân theo quy luật khí hậu.

Phân bố của bão, ATNĐ theo các tháng trong năm, hoạt động trên khu vực Biển Đông được trình bày trong Bảng 3.3. Trong năm 2018, bão, ATNĐ hoạt động trên khu vực Biển Đông bắt đầu tương tự như trên vùng biển TBTBD vào sáng 03/01 với với sự xuất hiện của cơn bão số 1, có tên quốc tế là Bolaven, trên vùng biển phía Đông quần đảo Trường Sa và suy yếu thành một vùng áp thấp vào sáng 04/01 trên vùng biển ngoài khơi tỉnh Khánh Hòa. Kết thúc là cơn bão số 9, có tên quốc tế là Usagi, hình thành trên vùng biển phía Đông Bắc quần đảo Trường Sa vào sáng 22/11, di chuyển về phía Tây Tây Nam, suy yếu thành ATNĐ và đổ bộ vào miền Đông Nam Bộ vào chiều 25/11. Như vậy có thể nói hoạt động của bão, ATNĐ trong năm 2018 trên khu vực Biển Đông là xuất hiện sớm và kết thúc hợp quy luật.

Số liệu trên Bảng 3 cũng cho thấy, ngoại trừ cơn bão số 1 (Bolaven) xuất hiện vào những ngày đầu tháng 01 thì hoạt động của bão, ATNĐ trong năm 2018 là liên tục, tập trung chủ yếu trong “mùa bão” năm 2018, trải dài từ tháng 6 và kéo dài đến những ngày cuối tháng 11. Trong các tháng từ 02 đến tháng 5 và tháng 12 không xuất hiện bất kỳ một cơn bão hay ATNĐ nào. Hoạt động của bão và ATNĐ tăng dần và đạt cực đại vào tháng 7 (có 01 cơn bão và 03 ATNĐ hoạt động trong tháng này) và duy trì đều đặn 1 - 2 cơn bão trong các tháng từ tháng 8 kéo dài đến cuối tháng 11.

Bng 3. Bão và ATNĐ hoạt đng trên Biển Đông năm 2018

 

 

Tháng

 

1

 

2

 

3

 

4

 

5

 

6

 

7

 

8

 

9

 

10

 

11

 

12

 

Tổng

 

ATNĐ

 

 

 

 

 

 

2

 

3

 

 

 

 

 

 

5

Bão, bão mạnh

(cp 8-11)

 

1

 

 

 

 

 

1

 

1

 

1

 

1

 

1

 

2

 

 

8

Bão rất mnh

(cp 12-15)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1

 

 

 

 

1

Siêu bão

(≥ cấp 16)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tổng số

 

1

 

 

 

 

 

3

 

4

 

1

 

2

 

1

 

2

 

 

14

 

Trong số 09 cơn bão hoạt động trên Biển Đông có 07 cơn bão có nguồn gốc phát sinh ngay trên khu vực biển này, chiếm tỉ lệ78%. Tỉ lệnày là tương đối cao so với nhiều năm gần đây. Trong số 09 cơn bão hoạt động trên Biển Đông chỉ có 03  ơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền nước ta, chiếm tỉ lệ 33% và đều là những cơn bão có nguồn gốc phát sinh ngay trên vùng biển này.

Đó là các cơn bão số 3 (Son-Tinh), bão số 4 (Bebinca) và bão số 9 (Usagi). Một đặc điểm nữa cũng dễ nhận thấy là tổng số các cơn bão, ATNĐ trong năm 2018 trên khu vực Biển Đông là nhiều hơn so với số liệu TBNN. Trong đó số lượng bão là ít hơn so với TBNN và số lượng ATNĐ lại nhiều hơn TBNN. Trong tổng số 09 cơn bão hoạt động trên Biển Đông, số lượng các cơn bão rất mạnh (cường độ ≥ cấp 12) chỉ có 01 cơn và ít hơn hẳn so với năm 2017 (05 cơn), chiếm tỉ lệ11% trong tổng số các cơn bão hoạt động trên Biển Đông. Tỉ lệ này lại là ít hơn rất nhiều so với TBNN. Tương tự năm 2017, trong năm 2018 cũng không xuất hiện bất kỳ một siêu bão nào hoạt động trên Biển Đông. Siêu bão Mangkhut (bão số 6) khi còn hoạt động trên biển TBTBD có cường độ cấp 17, giật trên cấp 17, khi vào Biển Đông chỉ còn cấp 15, giật trên cấp 17.

Trên bản đồ đường đi của bão và ATNĐ trong năm 2018 (Hình 3.1), có thể thấy hầu hết các cơn bão hoạt động trên Biển Đông có xu hướng đổ bộ vào khu vực đất liền phía Nam lục địa Trung Quốc (03 cơn, chiếm tỉ lệ33%); các tỉnh Bắc Trung Bộ (02 cơn, chiếm tỉ lệ22%), duy nhất một cơn bão đổ bộ vào khu vực Nam Bộ (01 cơn, chiếm tỉ lệ11%) và không có bất kỳ cơn bão, ATNĐ nào đổ bộ vào khu vực Bắc Bộ, Trung và Nam Trung Bộ. Trên Hình 3.1 cũng cho thấy, ngoại trừ bão số 2 di chuyển theo hướng Bắc đổ bộ vào phía Nam lục địa Trung Quốc, bão số 4 thắt nút 2 vòng trước khi di chuyển theo hướng Tây Tây Nam đổ bộ vào Thanh Hóa - Nghệ An thì hầu hết các cơn bão khi còn hoạt động trên Biển Đông và đổ bộ vào đất liền Việt Nam có hướng di chuyển tương đối đồng nhất theo hướng Tây đến Tây Tây Bắc.

Điểm nổi bật nhất của các cơn bão, ATNĐ hoạt động trên Biển Đông trong năm 2018 chính là một ATNĐ hình thành ngay trên vùng bờ biển Thái Bình - Nam Định vào những ngày cuối tháng 7, di chuyển hướng ngược ra phía biển Vịnh Bắc Bộ, đổ bộ vào khu vực phía Tây Bắc đảo Hải Nam trước khi đi vào đất liền bán đảo Lôi Châu và suy yếu thành một vùng áp thấp trên đất liền phía Bắc bán đảo này. Trong số các cơn bão hoạt động trên Biển Đông có nguồn gốc phát sinh ngay trên vùng biển này trong năm 2018 thì thời gian tồn tại của một cơn bão là không quá dài, trung bình kéo dài trong khoảng 2 - 3 ngày,chiếm tỉ lệ57%. Tỉ lệ này cũng tương tự so với năm 2017 (chiếm tỉ lệ56%).

Hình 1. Đưng đi ca bão và AT trên Biển Đông trong năm 2018

Cơn bão có thời gian duy trì lâu nhất là cơn bão số 4 (Bebinca) kéo dài 4 ngày, cơn bão có thời gian duy trì ngắn nhất là cơn bão số 8 (Toraji) chỉ kéo dài trong khoảng thời gian 15 giờ.

3. Đc điểm của bão và áp thp nhiệt đới nh hưởng đến Việt Nam

Năm 2018 là một năm có số lượng các cơn bão, ATNĐ đổ bộ và ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền nước ta là không nhiều. Trong năm chỉ có 03 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền Việt Nam và không có bất kỳ một ATNĐ nào ảnh hưởng trực tiếp. Dưới đây là diễn biến cụ thể của các cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta trong năm 2018.

3.1. Bão s 3 - Son-Tinh (1809)

Sáng 16/7, một ATNĐ hình thành trên vùng biển phía Đông Bắc đảo Ludông (Philippin) và di chuyển rất nhanh theo hướng Tây mỗi giờ đi được khoảng 35 - 40km. Sáng sớm 17/7, ATNĐ vượt qua phía Bắc đảo Ludông, đi vào vùng biển phía Đông Bắc khu vực Bắc Biển Đông và mạnh lên thành bão, cơn bão số 3, có tên quốc tế là Son-Tinh. Sau khi hình thành, bão số 3 tiếp tục di chuyển rất nhanh chủ yếu theo hướng Tây, mỗi giờ đi được khoảng 35 - 40km, sức gió vùng gần tâm bão mạnh cấp 8, giật cấp 10. Tối 18/7, khi đi vào cùng biển phía Đông đảo Hải Nam, bão số 3 đạt cường độ cực đại cấp 9, giật cấp 11. Sáng 18/7, bão số 3 vượt qua phía Nam đảo Hải Nam, đi vào vùng biển phía Nam Vịnh Bắc Bộ. Từ đây, cường độ và tốc độ di chuyển của bão cũng giảm dần, mỗi giờ đi được khoảng 20 - 30km. N a đêm 18/7, bão số 3 đổ bộ vào khu vực Nghệ An (tâm bão đi vào khu vực huyện Diễn Châu) với cường độ cấp 8, giật cấp 9, sau đó suy yếu nhanh thành ATNĐ, tiếp tục di chuyển theo hướng Tây Tây Bắc và suy yếu thành một vùng áp thấp trên khu vực Trung Lào vào chiều 19/7.

Hình 2. Din biến ca bão s 3 - Son-Tinh - 1809

Diễn biến về cường độ và hướng di chuyển của bão số 3 (Son-Tinh) được trình bày trên Hình 2 Bão số 3 là một cơn bão hình thành ngay trên Biển Đông, cường độ bão đạt mạnh nhất cấp 9, giật cấp 11 khi đi vào vùng biển phía Đông đảo Hải Nam. Số liệu quan trắc OBS TYPH trên Bảng 3.4 cho thấy, bão số 3 đã gây ra gió mạnh cấp 8, giật cấp 9 trên vùng biển Vịnh Bắc Bộ; vùng ven biển các tỉnh từ Thái Bình đến Nghệ An có gió mạnh cấp 6 - 7, gió giật cấp 8 - 9.

Tốc độ gió mạnh nhất và gió giật mạnh nhất trong cơn bão số 3 tại một số trạm được trình bày trong Bảng 3.4. Trị số khí áp thấp nhất trong thời gian hoạt động của bão số 3 quan trắc được tại Trạm khí tượng Quỳnh Lưu là 990,4mb vào lúc 01h30’ ngày 19/7/2018.

Bng4. Gió mnh nhất quan trắc được trong thời gian hot đng ca bão s 3

TT

Trm quan trắc

Gió mnh nhất

Thời gian (giờ/ngày/tháng)

Gió giật

1

Đảo Cô Tô (Quảng Ninh)

13 m/s (cấp 6)

11h22/18/7

23 m/s (cấp 9)

2

Đảo Bạch Long Vĩ

18 m/s (cấp 8)

22h07/18/7

19 m/s (cấp 8)

3

TP. Thái Bình

12 m/s (cấp 6)

20h41/18/7

17 m/s (cấp 7)

4

Như Tân (Ninh Bình)

13 m/s (cấp 6)

01h53/19/7

18 m/s (cấp 8)

5

Văn Lý (Nam Định)

15 m/s (cấp 7)

19h00/18/7

19 m/s (cấp 8)

6

Sầm Sơn (Thanh Hóa)

12 m/s (cấp 6)

23h38/18/7

19 m/s (cấp 8)

7

TP. Thanh Hóa

12 m/s (cấp 6)

00h06/19/7

17 m/s (cấp 7)

8

Tĩnh Gia (Thanh Hóa)

12 m/s (cấp 6)

03h00/19/7

22 m/s (cấp 9)

9

Quỳ Hợp (Nghệ An)

12 m/s (cấp 6)

04h20/19/7

18 m/s (cấp 8)

10

Quỳnh Lưu (Nghệ An)

14 m/s (cấp 7)

03h14/19/7

20 m/s (cấp 8)

11

Đảo Hòn Ngư (Nghệ An)

18 m/s (cấp 8)

02h57/19/7

23 m/s (cấp 9)

12

Hoành Sơn (Nghệ An)

12 m/s (cấp 6)

18h35/18/7

17 m/s (cấp 7)

Do ảnh hưởng trực tiếp của bão số 3 ở các tỉnh ven biển, đồng bằng vàtrung du Bắc Bộ đã có mưa vừa, mưa to; khu vực Bắc Trung Bộ có mưa rất to. Tổng lượng mưa từ 13h/18/7 đến 19h/19/7 phổ biến ở mức 50 - 100mm, riêng khu vực Hòa Bình và Bắc Trung Bộ là 100 - 200mm, một số nơi có mưa lớn hơn như Kim Bôi 223mm, Cao Phong và Mai Châu (Hòa Bình) 208mm, Tiên Yên (Quảng Ninh) 293mm, Bất Mọt 249mm, Cửa Đạt (Thanh Hóa) 210mm, Đô Lương (Nghệ An) 216mm,...

3.2. Bão s 4 - Bebinca (1816)

Chiều 08/8, trên vùng biển phía Đông Nam quần đảo Hoàng Sa hình thành một vùng áp thấp trên dải hội tụ nhiệt đới (ITCZ). Sáng 10/8, khi đi vào vùng biển phía Đông Nam đảo Hải Nam, vùng áp thấp mạnh lên thành ATNĐ. Sau khi hình thành, ATNĐ di chuyển chậm lên phía Bắc đi vào vùng biển phía Tây Nam tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), thắt nút một vòng trên vùng biển này và sáng 13/8 mạnh lên thành bão, cơn bão số 4, có tên quốc tế là Bebinca.

Hình 3. Din biến ca bão s 4 - Bebinca - 1816

Sau khi mạnh lên, bão số 4 tiếp tục di chuyển chậm về phía Đông, lại thắt nút một vòng trên vùng biển phía Nam Ma Cao (Trung Quốc), đổi hướng di chuyển chậm về phía Tây từ sáng ngày 14/8. Từ đây, bão di chuyển ổn định theo hướng Tây Tây Nam và liên tục mạnh lên. Sáng sớm 16/8, bão số 4 vượt qua phía Nam bán đảo Lôi Châu đi vào Vịnh Bắc Bộ với cường độ cấp 9, giật cấp 11. Trưa 16/8, khi đi qua phía Nam đảo Bạch Long Vĩ, bão số 4 đạt cường độ cực đại cấp 10, giật cấp 12. Chiều 16/8, sau khi vượt qua đảo Bạch Long Vĩ, bão số 4 bắt đầu suy giảm nhanh về cường độ và giữ hướng di chuyển ổn định giữa Tây và Tây Tây Nam, tốc độ di chuyển 10km một giờ. Sáng sớm 17/8, khi đi vào vùng bờ biển từ Nam Định đến Nghệ An, bão số 4 suy yếu thành ATNĐ đi vào đất liền (vùng tâm bão đi qua khu vực huyện Tĩnh Gia) tiếp tục suy yếu thành một vùng áp thấp vào sáng 17/8 trên vùng núi Nghệ An.

Diễn biến về cường độ và hướng di chuyển của bão số 4 (B binca) được trình bày trên Hình 3. Bão số 4 là cơn bão hình thành trên khu vực Biển Đông và có diễn biến về hướng di chuyển là rất phức tạp, thắt nút 2 lần trước khi di chuyển ổn định hướng Tây Tây Nam. Số liệu OBS TYPH quan trắc được ở các trạm quan trắc khí tượng bề mặt cho thấy, bão số 4 đã gây gió mạnh cấp 8, vùng gần tâm bão cấp 10, giật cấp 12 trên vùng biển Vịnh Bắc Bộ; gió mạnh cấp 6 - 7, giật cấp 8 trên vùng ven biển các tỉnh từ Thái Bình đến Thanh Hóa.

Tốc độ gió mạnh nhất và gió giật mạnh nhất quan trắc được trong bão số 4 tại một số trạm được trình bày trong Bảng 3.5. Trị số khí áp thấp nhất trong thời gian hoạt động của bão số 4 quan trắc được tại Tĩnh Gia (Thanh Hóa) là 986.4 mb vào lúc 04h46 ngày 17/8.

Bng 5. Gió mnh nhất quan trắc được trong thời gian hot đng ca bão s 4

TT

Trm quan trắc

Gió mnh nhất

Thời gian (giờ/ngày/tháng)

Gió giật

1

Đảo Bạch Long Vĩ

26m/s (cấp 10)

14h19/16/8

33m/s (cấp 12)

2

Đảo Cô Tô (Quảng Ninh)

12m/s (cấp 6)

11h06/16/8

18m/s (cấp 8)

3

Bãi Cháy (Quảng Ninh)

12m/s (cấp 6)

19h10/16/8

15m/s (cấp 7)

4

Ba Lạt (Thái Bình)

14m/s (cấp 7)

23h20/16/8

15m/s (cấp 7)

5

Như Tân (Ninh Bình)

13m/s (cấp 6)

01h36/17/8

16m/s (cấp 7)

6

Văn Lý (Nam Định)

15m/s (cấp 7)

02h15/17/8

19m/s (cấp 8)

7

Phú Lễ (Nam Định)

12m/s (cấp 6)

22h53/16/8

16m/s (cấp 7)

8

Sầm Sơn (Thanh Hóa)

13m/s (cấp 6)

03h44/17/8

19m/s (cấp 8)

9

Yên Định (Thanh Hóa)

12m/s (cấp 6)

03h05/17/8

13m/s (cấp 6)

10

Ngọc Trà (Thanh Hóa)

12m/s (cấp 6)

02h58/17/8

20m/s (cấp 8)

11

Quỳnh Lưu (Nghệ An)

13m/s (cấp 6)

05h38/17/8

19m/s (cấp 8)

Do ảnh hưởng của bão số 4 kết hợp với ITCZ ở các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã có mưa to trên diện rộng, có nơi mưa rất to. Tổng lượng mưa từ 01h/15/8 đến 19h/17/8 phổ biến ở mức 100 - 200mm, một số nơi có mưa lớn hơn như: Km46 (Sơn La) 313mm; Mường Chiềng (Hòa Bình) 339mm; Tam Đảo (Vĩnh Phúc) 288mm; Mẫu Sơn (Lạng Sơn) 532mm; TP. Lạng Sơn 351mm; Quỳ Hợp 280mm; Tây Hiếu 294mm; Quỳnh Lưu (Nghệ An) 309mm;...

3.3. Bão s 9 - Usagi (1829)

Sáng 18/11, một ATNĐ hình thành trên vùng biển ngoài khơi miền Nam Philippin. Sau khi hình thành ATNĐ di chuyển theo hướng Tây Bắc sau đó là hướng Tây với tốc độ di chuyển khoảng 15 - 20km một giờ và mạnh lên cấp 7, giật cấp 9. Sáng sớm 22/11, ATNĐ vượt qua đảo Palawan (Philippin) đi vào vùng biển phía Đông Nam Biển Đông và chiều cùng ngày mạnh lên thành bão, cơn bão số 9 trên khu vực Biển Đông năm 2018, có tên quốc tế là Usagi. Sau khi hình thành, bão số 9 đổi hướng di chuyển theo hướng Tây Tây Nam với tốc độ di chuyển chậm lại. Sáng sớm 24/11, sau khi đi vào vùng biển phía Đông Nam đảo Phú Quý (Bình Thuận) bão số 9 đạt cường độ cực đại cấp 10, giật cấp 12 và đổi hướng di chuyển theo hướng Tây Nam với tốc độ 10 - 15km/h và duy trì cường độ mạnh cấp 10, giật cấp 12.

Hình 4. Din biến ca bão s 9 - Usagi - 1829

Chiều cùng ngày, bão số 9 lại một lần nữa đổi hướng di chuyển theo hướng Tây rồi Tây Tây Bắc với tốc độ di chuyển chậm lại khoảng 10km một giờ. Từ đây cường độ bão cũng có dấu hiệu suy giảm dần. Trưa 25/11, sau khi đi sát vào vùng bờ biển từ Bình Thuận đến Bến Tr , bão số 9 suy yếu thành ATNĐ và chiều cùng ngày ATNĐ đi vào khu vực từ Bà Rịa - Veng Tàu sức gió mạnh cấp 7 - 8, giật cấp 9. Sau khi đi vào đất liền, ATNĐ tiếp tục di chuyển theo hướng Tây Tây Bắc, đi sâu vào đất liền và suy yếu thành một vùng áp thấp trên khu vực các tỉnh miền Đông Nam Bộ.

Diễn biến về cường độ và hướng di chuyển của bão số 9 (Usagi) được trình bày trên Hình 4. Bão số 9 là cơn bão hình thành trên khu vực phía Nam Biển Đông và có diễn biến về cường độ là tương đối phức tạp. Cường độ bão khi càng vào gần bờ càng mạnh, sau đó lại suy yếu rất nhanh khi di chuyển vào sát bờ biển. Theo số liệu OBS TYPH quan trắc được ở các trạm quan trắc khí tượng bề mặt cho thấy, bão số 9 đã gây gió mạnh cấp 10, giật cấp 12 trên vùng biển ngoài khơi từ Bình Thuận đến Cà Mau. Gió mạnh cấp 7 - 8, giật cấp 9 ở Phan Thiết và Veng Tàu (trạm hải văn Veng Tàu đã đo được gió mạnh 16m/s (cấp 7), trạm khí tượng Phan Thiết đã đo được gió giật mạnh 20m/s (cấp 8)); khu vực ven biển từ Khánh Hòa đến Bến Tre có gió giật mạnh cấp 6 - 7.

Tốc độ gió mạnh nhất và gió giật mạnh nhất quan trắc được trong cơn bãosố 9 tại một số trạm được trình bày trong Bảng 6. Trị số khí áp thấp nhất trong thời gian hoạt động của bão số 9 quan trắc được tại TP. Veng Tàu là 999.6mb vào lúc 14h30 ngày 25/11.

 

Bng 6. Gió mnh nhất quan trắc được trong thời gian hot đng ca bão s 9

TT

Trm quan trắc

Gió mnh nhất

Thời gian (giờ/ngày/tháng)

Gió giật

1

Đảo Phú Quý (Bình Thuận)

12m/s (cấp 6)

06h32/24/11

20m/s (cấp 8)

2

TP. Nha Trang

11m/s (cấp 6)

09h25/24/11

14m/s (cấp 7)

3

Cam Ranh (Khánh Hòa)

08m/s (cấp 5)

22h23/25/11

15m/s (cấp 7)

4

Phan Rang (Ninh Thuận)

12m/s (cấp 6)

13h51/25/11

16m/s (cấp 7)

5

Phan Thiết (Bình Thuận)

15m/s (cấp 7)

09h11/25/11

20m/s (cấp 8)

6

Hàm Tân (Bình Thuận)

12m/s (cấp 6)

09h45/25/11

16m/s (cấp 7)

7

TP. Veng Tàu

10m/s (cấp 5)

18h40/25/11

17m/s (cấp 7)

Do ảnh hưởng trực tiếp của bão số 9 và hoàn lưu vùng áp thấp suy yếu từ bão số 9, ở các tỉnh Nam Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ đã có mưa vừa, mưa to, riêng khu vực TP. Hồ Chí Minh đã có mưa đặc biệt to. Tổng lượng mưa từ 13h/24/11 đến 19h/26/11 ở miền Đông Nam Bộ phổ biến từ 100 - 200mm; các tỉnh Nam Trung Bộ phổ biến 200 - 300mm; riêng khu vực TP. Hồ Chí Minh 300 - 400mm, một số nơi có mưa lớn hơn như Hà Bằng (Phú Yên) 421mm; Bà Râu 355mm; Nước Ngọt 343mm; Phước Chiến 386mm; Quán Thẻ (Ninh Thuận) 350mm; Nhà Bè 408mm; Tân Sơn Hòa (TP. Hồ Chí Minh) 401mm;…